Nền kinh tế thị trường XHCN và tác động đến việc sửa đổi Bộ Dân sự 2005

I. Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách để thực hiện mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và mục tiêu xây dựng một nhà nước pháp quyền đã được đặt ra.

Thực hiện mục đích là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thì trong thời kỳ quá độ cần một điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được những cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Phương thức thực hiện mục đích này là giải phóng mọi năng lực sản xuất trong xã hội, thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, theo đó quan hệ sản xuất trong xã hội phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Mục tiêu xây dựng một xã hội toàn dân no ấm, nước giàu dân mạnh trở thành hiện thực.

Nhiều bài học kinh nghiệm đã cho thấy, ở Việt Nam đã trải qua một thời kỳ thực hiện nền kinh tế chỉ huy, tập trung, quan liêu, bao cấp phân phối cào bằng đã là nguyên nhân kìm hãm sức sản xuất xã hội, mà hậu quả là xã hội trì trệ, kém phát triển và chúng ta đã phải trả giá cho cơ chế tập trung, bao cấp đó.

Căn cứ vào các cương lĩnh phát triển kinh tế – xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, X và XI thì khái niệm: “Kinh tế thì trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được hình thành và xem đây là một mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Các yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là một nền kinh tế mang tính chất linh hoạt kết hợp năng động với những ưu thế chính trị tiên tiến. Kinh tế thị trường có những ưu điểm là phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội và là cơ hội để hội nhập quốc tế và khu vực. Cho nên Nhà nước có vai trò điều tiết vĩ mô để nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tránh nguy cơ khủng hoảng thiếu và thừa trong một lĩnh vực sản xuất kinh doanh cụ thể. Trong kinh tế thị trường, Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào những quan hệ ở tầm vi mô. Bản thân nền kinh tế thị trường tự nó vận hành đã là một đảm bảo trong giới hạn nào đó về công bằng xã hội, theo đó thúc đẩy các quan hệ xã hội khác phát triển.

Ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, theo qui định của Hiến pháp năm 2013 và các cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm giải phóng mọi năng lực lượng sản xuất trong xã hội và các hình thức sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau được thừa nhận và bảo vệ. Về chế độ kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục đích được xác định tại Điều 51 Hiến Pháp: “1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vơi nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nuớc giữ vai trò chủ đạo.

2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.

3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hoá”.

Như vậy, chế độ kinh tế của Nhà nước Việt Nam đã mở ra một xu thế phát triển toàn diện, khuyến khích phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Các thành phần kinh tế tư bản tư nhân tương ứng với các hình thức sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu tiểu chủ, sở hữu cá thể được thừa nhận và khuyến khích phát triển. Nhà nước luôn luôn khuyến khích các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân có quyền được lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh và kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển. Như vậy, bản chất của chế độ kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được xác định. Các chính sách của Đảng cộng sản và của Nhà nước Việt Nam đều tập trung vào việc hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu được đặt ra là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với những chính sách cởi mở và linh hoạt như vậy, là môi trường thuận lợi theo các cơ chế, chính sách nhằm giải phóng sức sản xuất trong xã hội. Khuyến khích mỗi cá nhân làm giàu một cách chính đáng và các thành phần kinh tế không bị hạn chế về qui mô hoạt động, sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ. Với đường lối phát triển kinh tế linh hoạt, năng động như vậy đã tạo ra sự công bằng xã hội trên mọi lĩnh vực của đời sống là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, có sức mạnh chi phối, điều tiết các thành phần kinh tế khác. Những định hướng tích cực này, đã là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực, đồng thời giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người, lấy con người làm trung tâm. Hoàn thiện chế độ phân phối theo lao đông, loại bỏ tư tưởng phân phối bình quân theo cơ chế xin – cho thời bao cấp trước đây. Với định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ được đặt ra là cần không ngừng đẩy mạnh việc phát triển đồng bộ, quản lý có hiệu quả sự vận hành của các loại thị trường. Vai trò của nhà nước trong điều chỉnh vĩ mô thông qua các cơ chế, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp. Các thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy và là lực lượng vật chất quan trọng để định hướng, điều tiết nền kinh tế đa thành phần. Với định hướng này, đã xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu trong xã hội. Sở hữu của Nhà nước là chủ đạo, được coi trọng, nhưng sở hữu của cá nhân cũng được qui định mở rộng mà không bị bó hẹp trong một phạm vi và giá trị tài sản như trước thời kỳ đổi mới.

Lần đầu tiên trong lịch sử thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp xác định rõ mục đích xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, tình hình đổi mới toàn diện cả tư tưởng và tư duy kinh tế. Do vậy, Hiến pháp năm 2013, được coi là Hiến pháp phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực. Các hình thức sở hữu hiện nay ở nước ta được bảo đảm phát triển bình đẳng, không phân biệt giữa nền kinh tế này với nền kinh tế khác và bảo đảm sự bình đẳng giữa các hình thức sở hữu về tài sản, không phân biệt, ưu tiên hình thức sở hữu này với hình thức sở hữu khác.

Trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội và thời kỳ đổi mới mọi mặt của Nhà nước, những định hướng phát triển kinh tế đất nước đã được xác định rõ. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với cơ cấu nền kinh tế đa thành phần hiện nay ở nước ta, các hình thức tổ chức sản xuất cũng đa dạng trên chế độ sở hữu toàn dân. Những hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó hình thức sở hữu Nhà nước và tập thể là nền tảng. Xuất phát từ tư tưởng và quan điểm xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là sở hữu toàn dân. Tuy pháp luật có qui định bảo vệ các hình thức sở hữu phi xã hội chủ nghĩa là sở hữu tư nhân, sở hữu cá thể nhưng hai hình thức sở hữu Nhà nước (sở hữu toàn dân) và sở hữu tập thể là nền tảng và được chú trọng phát triển. Xét về bản chất sở hữu xã hội chủ nghĩa, thì sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể của nhân dân lao động là hai hình thức cơ bản. Hai hình thức sở hữu này không thể tồn tại hiện tượng người bóc lột người, không có quan hệ giữa chủ và tớ, mà là quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong tập thể người lao động, trên nguyên tắc làm theo năng lực và hưởng theo lao động. Hai hình thức sở hữu mang bản chất của chủ nghĩa xã hội được củng cố và phát huy sự ảnh hưởng đến các hình thức sở hữu khác, như sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân.

Về hình thức sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân: hai hình thức sở hữu này xét về bản chất không phải là hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa, mà thuộc hình thức sở hữu của hộ gia đình và cá nhân sản xuất tư bản tư nhân, cá thể. Những hình thức sở hữu này được pháp luật bảo đảm thực hiện trong quá trình sản xuất, kinh doanh hợp pháp và tạo ra nhiều việc làm mới, theo đó thu nhập của người lao động được bảo đảm. Nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu phát huy tối đa năng lực trong sản xuất, kinh doanh và nhằm đảm bảo cho các thành phần kinh tế an tâm trong sản xuất, kinh doanh và đầu tư sản xuất.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiên nay đã và đang là động lực củng cố, phát huy và bảo đảm cho các quyền dân chủ được thực hiện hữu hiệu nhất. Theo cơ chế này, mọi năng lực sản xuất trong xã hội phát triển và bảo đảm sự công bằng xã hội, mà trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trước đây không thể có được. Nền kinh tế đa thành phần tạo ra động lực sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ trong xã hội phát triển khách quan hơn. Mọi sự bình quân chủ nghĩa, cào bằng, khổ như nhau, sướng như nhau không còn tồn tại trong nền sản xuất theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường là môi trường của mọi cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau phát huy được triệt để nhất năng lực của mình để tạo ra những sản phẩm cho xã hội thông qua các giao dịch dân sự, thương mại. Khi sản xuất phát triển, nhất là sản xuất tạo ra của cải vật chất thì theo đó là các quan hệ dân sự, thương mại và ngoại thương phát triển theo. Thị trường lao động được mở rộng và nhu cầu lao động ngày càng được củng cố, theo đó lao động có kỹ thuật tạo ra những sản phẩm xã hội có hàm lượng trí tuệ ngày một cao, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của toàn xã hội. Cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị trường là động lực thúc đẩy sản xuất và lưu thông sản phẩm xã hội phát triển theo. Các yếu tố tích cực của nền kinh tế thị trường đối với đời sống của mỗi cá nhân và của toàn xã hội ngày càng được nâng lên về chất lượng sống.

PGS.TS. Phùng Trung Tập (Trường Đại học Luật Hà Nội)

PGS.TS. Phùng Trung Tập (Trường Đại học Luật Hà Nội).

II. Những tác động của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với việc hoàn thiện Bộ luật dân sự của Việt Nam

Với những nội dung phân tích trong phần trên về những nét cơ bản của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhận thấy nền kinh tế này có sự tác động trực tiếp đến việc hoàn thiện Bộ Luật dân Việt Nam. Với mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trong Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, thì nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là phải xây dựng được những đạo luật đáp ứng được đòi hỏi của xã hội, điều chỉnh phù hợp với các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ pháp luật dân sự. Do vậy, hệ thống pháp luật của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ ghĩa xã hội cần được xây dựng phù hợp với các quan hệ xã hội. Với quan điểm lập pháp không phải là ban phát cho nhân dân những gì Nhà nước muốn, mà phải xác định những quyền dân sự hiển nhiên dân được hưởng thì phải được xác định rõ trong luật. Pháp luật chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào cuộc sống, mang tính hiện thực và có hiệu quả điểu chỉnh cao.

Với những cơ sở lập luận trên, trong tiểu luận này chúng tôi chỉ ra những qui định trong Bộ luật dân sự năm 2005 chưa thật sự phù hợp với đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai, cho nên cần phải được xem xét để loại bỏ, không nên qui định trong Bộ luật dân sự khi được sửa đổi, bổ sung.

Một điều hiển nhiên là, cuộc sống luôn luôn diễn ra một cách khách quan. Quan hệ trài sản và quan hệ nhân thân trong xã hội luôn luôn diễn ra theo qui luật của quan hệ cung – cầu, cho nên pháp luật chỉ có ý nghĩa khi có những qui định phù hợp với đời sống xã hội đương thời và trong một tương lai ổn định.

Quan điểm lập pháp phải được thay đổi theo sự nhìn nhận và đánh giá khách quan, khoa học, biện chứng. Pháp luật không thể có những qui định kìm hãm sự phát triển tất yếu của xã hội, mà pháp luật phải là động lực thúc đẩy quan hệ xã hội phát triển, trong đó có quan hệ về lĩnh vực dân sự. Quan hệ trao đổi các sản phẩm trong xã hội giữa các chủ thể diễn ra một cách khách quan theo nhu cầu sống, lao động, sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của các chủ thể trong xã hội. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ này là bảo đảm sự công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ tài sản, do vậy pháp luật dân sự chỉ với vai trò trọng tài mà không nên có qui định nhằm can thiệp quá sâu vào những quan hệ dân sự.

Vai trò của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể phát huy được hiệu quả, khi Bộ luật dân sự có những qui định phù hợp với qui luật của nền kinh tế thị trường. Vì vậy, cần phải đánh giá lại nnững qui định chưa thật sự phù hợp trong Bộ luật dân sự năm 2005 để có căn cứ hoàn thiện Bộ luật dân sự được sửa đổi, bổ sung. Với mục đích được đặ ra, chúng tôi xác định và chỉ ra những qui định trong Bộ luật dân sự năm 2005 còn nhiều bất cập về quyền nhân thân, hình thức sở hữu, về vật quyền, trái quyền, về thừa kế và những hạn chế khác để khi Bộ luật dân sự năm 2005 sửa đổi, bổ sung, có hiệu lực điều chỉnh ổn định, lâu dài hơn vì nội dung những qui định trong Bộ luật dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường.

Nguyên tắc công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ về tài sản và nhân thân cần phải được bảo đảm thực hiện triệt để.

Tại mục 5 và mục 6 chương XIII Bộ luật dân sự năm 2005, qui định về sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp là những qui định chỉ dựa vào tư cách chủ thể của các tổ chức trong quan hệ xã hội, để qui định cho các tổ chức này thuộc một hình thức sở hữu là không thỏa đáng. Như tại phần trên, khi đề cập đến sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp chúng tôi đã phân tích và nhận định về loại hình thức sở hữu này. Nếu xét theo các điều kiện của pháp nhân, thì các tổ chức này là những pháp nhân. Do vậy các tổ chức này thực hiện quyền sở hữu cũng tuân theo các căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung và quyền sở hữu của pháp nhân nói riêng. Như vậy, giữa tổ chức chính trị và các tổ chức kinh tế khác không có sự khác biệt về địa vị pháp lý trong quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh, mà chỉ có sự khác biệt giữa các chức năng hoạt động mà thôi. Về mặt lý luận và thực tiễn, thì chức năng của bất kỳ tổ chức nào cũng không thể lấy làm tiêu chí xác định hình thức tồn tại của tổ chức đó. Hơn nữa, xét hình thức sở hữu của một tổ chức thì không thể chỉ dựa vào tính chất hoạt động của nó, mà phải xác định được địa vị pháp lý của tổ chức đó trong mối quan hệ tài sản như thế nào mới thỏa đáng.

Xét về nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu, thì cho dù là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp so với bất kỳ một pháp nhân kinh tế nào, thì đều phải thực hiện quyền sở hữu theo mục đích thành lập chung được qui định trong điều lệ. Việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản cho dù của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp thì đều phải tuân theo qui định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động được qui định trong điều lệ. Với những căn cứ lập luận này, thì tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp cũng không thể nằm ngoài những nguyên tắc chung của pháp luật qui định về các căn cứ xác lập quyền ở hữu, và chủ sở hữu thực hiện đầy đủ ba quyền năng thuộc nội dung quyền sở hữu tuân theo pháp luật và phù hợp với điều lệ của mỗi một tổ chức, cho dù là tổ chức đó hoạt động nghiệp vụ, chính trị hay kinh tế, thương mại, dịch vụ. Như vậy, qui định một hình thức sở hữu độc lập của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong Bộ luật dân sự hiện hành là không cần thiết và không phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật qui định về hình thức sở hữu. Đồng thời qui định tại các Điều 227 đến 232 BLDS hiện hành đã phá vỡ tính nhất thể hóa của pháp luật dân sự. Nên chăng khi Bộ luật dân sự năm 2005 được sửa đổi, bổ sung thì sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – ghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp nên được qui định là hình thức sở hữu của pháp nhân, mà không nên để tách biệt như hiện nay. Bởi vì, tổ chức đó cho dù là kinh tế hay chính trị, nếu thỏa mãn các điều kiện của pháp nhân thì là pháp nhân. Tổ chức đó có tài sản cho dù được hình thành từ bất kỳ một căn cứ hợp pháp nào thì đều là căn cứ xác lập quyền sở hữu, và như vậy không có sự phân biệt tổ chức đó là của Nhà nước, hay của tư nhân hay của một hệ thống chính trị nhất định. Với những căn cứ lập luận này, khi Bộ luật dân sự năm 2005 được sửa đổi, bổ sung thì nên loại bỏ các điều tại các mục 5 và 6 chương XIII Bộ luật dân sự, và sở hữu của các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội… nên qui định là sở hữu của pháp nhân. Vì bản thân các tổ chức đã viện dẫn trên đây là pháp nhân rồi. Không nên phân biệt pháp nhân chính trị với pháp nhân kinh tế khác, mà phá vỡ tính nhất thể hóa của pháp luật.

Vì vậy, Dự thảo Bộ luật dân sự năm 2005 (sửa đổi) chỉ quy định về 3 hình thức sở hữu là:
Hình thức sở hữu thức nhất: Sở hữu toàn dân, là sở hữu đối với tài sản công, bao gồm đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý.

Hình thức sở hữu thứ hai: Sở hữu riêng là sở hữu đối với tài sản của một chủ thể, bao gồm cá nhân và pháp nhân;
Hình thức sở hữu thứ ba: sở hữu chung là sở hữu đối với tài sản của nhiều chủ thể bao gồm sở hữu chung theo phần, sở hữu chung hợp nhất. Sở hữu chung hợp nhất gồm có sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng đối với tài sản chung được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp và sở hữu chung của cộng đồng một dòng họ đối với nhà thờ họ, sử hữu chung của cộng đồng làng, xã, bản… đối với tài sản chung của công đồng trong sinh hoạt tôn gáo, tín ngưỡng…

Những quy định về hình thức sở hữu trong Dự thảo Bộ luật dân sự năm 2005 là phù hợp với đời sống kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay.

PGS.TS. Phùng Trung Tập